Việt Nam hiện đang là điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư và chuyên gia quốc tế, với môi trường kinh doanh ngày càng phát triển. Tuy nhiên, khi người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, việc hiểu rõ các quy định thuế là vô cùng quan trọng để đảm bảo tuân thủ nghĩa vụ thuế đúng đắn. Đặc biệt, kỳ tính thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với người nước ngoài là một yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định mức thuế phải đóng. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ làm rõ các quy định pháp lý, điều kiện xác định cá nhân cư trú, cũng như cách thức tính kỳ thuế TNCN đối với người nước ngoài tại Việt Nam, qua đó giúp các cá nhân và doanh nghiệp nắm vững các quy định thuế hiện hành.
Chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với người nước ngoài làm việc tại Việt Nam được quy định trong Thông tư số 111/2013/TT-BTC và các văn bản sửa đổi, bổ sung liên quan. Căn cứ pháp lý này giúp xác định cá nhân là cư trú hay không cư trú tại Việt Nam dựa trên số ngày có mặt tại Việt Nam trong năm tính thuế hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam.
Công văn số 85039/CT-TTHT của Cục Thuế TP Hà Nội cung cấp hướng dẫn chi tiết về chính sách thuế TNCN đối với người nước ngoài tại Việt Nam, bao gồm quy định về việc xác định cá nhân cư trú và không cư trú, kỳ tính thuế và khấu trừ thuế.
“…1. Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam, trong đó ngày đến và ngày đi được tính là một (01) ngày. Ngày đến và ngày đi được căn cứ vào chứng thực của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên hộ chiếu (hoặc giấy thông hành) của cá nhân khi đến và khi rời Việt Nam. Trường hợp nhập cảnh và xuất cảnh trong cùng một ngày thì được tính chung là một ngày cư trú.
..”
Theo quy định tại Điều 1 của Thông tư số 111/2013/TT-BTC, cá nhân được xem là cư trú tại Việt Nam khi đáp ứng ít nhất một trong các điều kiện sau:
+ Tại Điểm a, Khoản 1, Điều 6 quy định về kỳ tính thuế như sau:
“Kỳ tính thuế theo năm: áp dụng đối với thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công.
Trường hợp trong năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên thì kỳ tính thuế được tính theo năm dương lịch.
Trường hợp trong năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày nhưng tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam là từ 183 ngày trở lên thì kỳ tính thuế đầu tiên được xác định là 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Từ năm thứ hai, kỳ tính thuế căn cứ theo năm dương lịch….”
1. Đối với cá nhân nước ngoài xác định là cá nhân cư trú:
Ví dụ: Ông B là người nước ngoài lần đầu tiên đến Việt Nam từ ngày 20/4/2014. Trong năm 2014 tính đến ngày 31/12/2014, ông B có mặt tại Việt Nam tổng cộng 130 ngày. Trong năm 2015, tính đến 19/4/2015 ông B có mặt tại Việt Nam tổng cộng 65 ngày. Kỳ tính thuế đầu tiên của ông B được xác định từ ngày 20/4/2014 đến hết ngày 19/4/2015. Kỳ tính thuế thứ hai được xác định từ ngày 01/01/2015 đến hết ngày 31/12/2015.
Ví dụ: Trường hợp ông Y sang Việt Nam công tác một tuần vào tháng 2 năm 2017, sau đó ông Y quay lại Việt Nam làm việc chính thức theo Hợp đồng lao động và ở Việt Nam liên tục đến năm 2018 thì kỳ tính thuế của ông Y được xác định kể từ ngày ông Y sang Việt Nam công tác vào tháng 2 năm 2017.
2. Đối với cá nhân nước ngoài không cư trú:
Việc xác định kỳ tính thuế đối với người nước ngoài tại Việt Nam rất quan trọng để đảm bảo nghĩa vụ thuế được thực hiện đúng quy định. Việc xác định cá nhân là cư trú hay không cư trú sẽ ảnh hưởng đến cách thức tính thuế và mức thuế phải đóng. Các cá nhân nước ngoài làm việc tại Việt Nam cần lưu ý và chủ động theo dõi các quy định thuế liên quan để tránh rủi ro và đảm bảo tuân thủ nghĩa vụ thuế.
Ngân Hồ
CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN & ĐẠI LÝ THUẾ TPM
Mã số thuế: 0312787706
Địa chỉ: 102 Phùng Văn Cung, Phường Cầu Kiệu, TP Hồ Chí Minh
Email: htdn@tpm.com.vn
Hotline: +84 28 3505 1800