Hiện nay, pháp luật Việt Nam không cho phép nhờ người đứng tên thay khi đăng ký thành lập DN. Việc đứng tên hộ trong giấy phép kinh doanh không chỉ tiềm ẩn các rủi ro pháp lý và tài chính mà còn có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng về hình sự. Do vậy, bản thân người được nhờ đứng tên giùm phải có sự tỉnh táo để tránh việc chịu những rủi ro và trách nhiệm pháp lý do sự kém hiểu biết của bản thân.
Việc đứng tên hộ trong giấy phép kinh doanh xuất phát từ nhiều lý do, trong đó có:
Thứ nhất, thủ tục thành lập đơn giản: Luật doanh nghiệp 2020 và Luật đầu tư 2020 có sự thay đổi đáng kể nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký kinh doanh. Đáng kể đến là Thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được chuyển từ hồ sơ giấy sang đăng ký online, thời gian cấp chỉ còn 03 ngày làm việc. Tuy là một bước tiến đáng kể về mặt thủ tục hành chính, nhưng vẫn chưa thiết lập cơ chế kiểm soát về xác thực, mở ra cơ hội cho việc mượn danh người khác để đứng tên.
Thứ hai, cá nhân có nhu cầu nhưng không đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp: Theo khoản 2 Điều 17 Luật doanh nghiệp 2020. Trong trường hợp này, họ thường nhờ người khác đứng tên để có thể hợp pháp hóa hoạt động kinh doanh của mình.
Thứ ba, động cơ tài chính hoặc quan hệ xã hội: Việc đứng tên họ xuất phát từ được hưởng một khoản lợi ích nhất định hoặc nhận lời nhờ tạm thời của bạn bè, người thân.
Người đứng tên hộ có thể đối mặt với nhiều rủi ro pháp lý nghiêm trọng, bao gồm:
Khả năng bị truy cứu trách nhiệm hình sự: Nếu doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật hoặc gian lận. Tại khoản 2 Điều 75 Bộ luật Hình sự có quy định việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân. Ngay cả khi không có lợi ích trực tiếp hoặc không trực tiếp thực hiện hành vi thì với tư cách là người đại diện theo pháp luật, người đứng tên giùm có thể phải chịu trách nhiệm hình sư, bao gồm cả mức phạt và thậm chí bị phạt tù.
Các tội danh có thể áp dụng bao gồm: Điều 188 (tội buôn lậu); Điều 189 (tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới); Điều 200 (tội trốn thuế); Điều 203 (tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước); Điều 216 (tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động)…
Trách nhiệm pháp lý: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật doanh ngiệp năm 2020, “người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước trọng tài, tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”. Với tư cách là người đứng tên giùm sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp, bao gồm nghĩa vụ nộp thuế, trách nhiệm trước khoản vay và các tranh chấp phát sinh của doanh nghiệp. Trong các vụ án kinh doanh thương mại, người đứng tên hộ phải tham gia vào các vụ việc dân sự trước tòa án hoặc trọng tài. Khi doanh nghiệp vi phạm pháp luật, người đại diện pháp luật sẽ bị xử lý, ngay cả khi không tham gia trực tiếp vào hoạt động kinh doanh.
Trách nhiệm xử phạt hành chính: Tại khoản 3 Điều 8 Luật Doanh nghiệp 2020 thì doanh nghiệp có nghĩa vụ chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và các báo cáo; trường hợp phát hiện thông tin đã kê khai hoặc báo cáo thiếu chính xác, chưa đầy đủ, thì phải kịp thời sửa đổi, bổ sung các thông tin đó. hành vi nhờ người khác đứng tên giùm, nếu bị phát hiện vi phạm, chỉ có thể bị xử lý hành chính về việc kê khai không trung thực, thiếu chính xác trong hồ sơ đăng ký kinh doanh. Theo Nghị định số 122/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư quy định tại Điều 43, vi phạm về kê khai hồ sơ đăng ký DN: phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký DN, hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký DN để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN, Giấy chứng nhận thay đổi nội dung đăng ký DN.
Hiện nay, pháp luật Việt Nam không cho phép nhờ người đứng tên thay khi đăng ký thành lập DN. Việc đứng tên hộ trong giấy phép kinh doanh không chỉ tiềm ẩn các rủi ro pháp lý và tài chính mà còn có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng về hình sự. Do vậy, bản thân người được nhờ đứng tên giùm phải có sự tỉnh táo để tránh việc chịu những rủi ro và trách nhiệm pháp lý do sự kém hiểu biết của bản thân.
Nguồn tham khảo:
https://plo.vn/nu-giam-doc-bu-nhin-do-ut-troc-dung-len-post576088.html
Duong Nguyen
CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN & ĐẠI LÝ THUẾ TPM
Mã số thuế: 0312787706
Địa chỉ: 102 Phùng Văn Cung, Phường Cầu Kiệu, TP Hồ Chí Minh
Email: htdn@tpm.com.vn
Hotline: +84 28 3505 1800